Việc nói trước đám đông - thuyết trình bằng tiếng Anh - rất có lợi cho các con, không chỉ ở hiện tại, mà còn cho cả tương lai sau này của các con.
28099
Việc nói trước đám đông - thuyết trình bằng tiếng Anh - rất có lợi cho các con, không chỉ ở hiện tại, mà còn cho cả tương lai sau này của các con.
Trong bài viết dưới đây, chúng tôi minh họa những điểm khác biệt chính giữa việc học tập định hướng phát triển năng lực so với cách tiếp cận giáo dục truyền thống, đặc biệt trong các lĩnh vực như văn hóa trường học, học tập suốt đời, nhịp độ học tập, hướng dẫn, đánh giá và chính sách chấm điểm.
Môi trường học tập
Trong giáo dục truyền thống, việc học tập diễn ra bên trong một lớp học truyền thống, ít hoặc hiếm khi việc học được tiếp cận theo sở thích của học sinh hoặc phong cách học tập.
Trong dạy học phát triển năng lực, học sinh có nhiều trải nghiệm học tập khác nhau ở trường, học tập trực tuyến và học tập trong cộng đồng. Các chủ thể đa dạng tạo ra lộ trình học tập khác nhau để phù hợp với sở thích và phong cách học tập của học sinh
Các chỉ dẫn
Trong giáo dục truyền thống, mỗi lớp học có một giáo viên, việc thiết kế và cung cấp chương trình giảng dạy được tiến hành với rất ít sự khác biệt.
Trong dạy học phát triển năng lực, giáo viên hợp tác với cộng đồng và học sinh để phát triển một kế hoạch học tập riêng cho mỗi học sinh dựa trên sở thích, phong cách học tập và thời gian.
Hệ thống đánh giá
Trong giáo dục truyền thống, các bài kiểm tra, đánh giá được tiến hành vào một thời điểm nhất định để đánh giá và phân loại học sinh. Thường thì, các bài đánh giá tổng kết sẽ diễn ra vào cuối năm học.
Trong dạy học phát triển năng lực, một hệ thống đánh giá toàn diện là một phần thiết yếu của hệ thống học tập. Đánh giá thường xuyên được tiến hành. Các đánh giá tổng kết được thực hiện khi học sinh đã làm chủ một đơn vị kiến thức nào đó.
Chính sách chấm điểm
Trong giáo dục truyền thống, điểm số được tham chiếu theo tiêu chuẩn, phản ánh các tiêu chuẩn của môn học, thường dựa trên các con số hoặc chữ và một bài kiểm tra cuối cùng.
Trong học tập theo định hướng phát triển năng lực, điểm số phản ánh mức độ làm chủ các năng lực. Nếu học sinh không đạt ở năng lực nào, chúng sẽ chỉ phải học lại/ bổ sung năng lực đó thay vì phải học lại toàn bộ môn học.
Học tập suốt đời
Trong giáo dục truyền thống, học sinh được trang bị kiến thức để vượt qua các kì thi.
Trong học tập dựa trên năng lực, học sinh dự kiến sẽ thành thạo các năng lực phù hợp với các tiêu chuẩn sẵn sàng cho đại học và nghề nghiệp với các mục tiêu học tập rõ ràng.
Nhịp độ học tập
Trong giáo dục truyền thống, học sinh phải tuân theo các lớp học, cấp học và tuân thủ nhịp độ học tập do giáo viên đề ra cho cả lớp.
Trong học tập dựa trên năng lực, học sinh nhận được hỗ trợ phù hợp cả trong trường và ngoài trường để có thể học nhanh hơn so với các bạn ở cùng lớp.
Theo knowledgeworks.org
Táo Giáo Dục dịch
|
|
Phương pháp dạy học truyền thống |
Phương pháp dạy học tích cực |
|
Cách thức |
Giáo
viên là trung tâm |
Học
sinh là trung tâm. Giáo viên chỉ giữ vai trò định hướng. |
|
Phương pháp giảng dạy |
Phương
pháp dạy học truyền thống tập trung chủ yếu vào cách truyền thụ, thông báo
cho học sinh. Trong đó bao gồm việc định hướng, kiểm tra, quản lý học sinh.
Giáo viên sẽ là người đưa ra cách thức, đặt vấn đề và học sinh chỉ cần nghe,
ghi chép và học thuộc |
Có
sự phối hợp cân bằng giữa người dạy và người học. Cả giáo viên và học sinh sẽ
cùng nhau lên kế hoạch, thực hiện và đánh giá, đưa ra bài học sau khi kết
thúc giờ học. |
|
Người học |
Người
học bị động và phụ thuộc phần lớn vào giáo viên. |
Người
học giữ vai trò chủ động và tự mình đánh giá kết quả. |
|
Giáo viên |
Giáo
viên sẽ là người trực tiếp trình bày, giảng dạy cho học sinh. Đồng thời họ
cũng là người kiểm tra và đánh giá cuối cùng.
|
Giáo
viên chỉ là người đưa ra định hướng, tình huống và gợi mở vấn đề. Trong khi
học sinh sẽ là người trực tiếp tìm tòi và giải đáp vấn đề đó. |
|
Quá trình giảng dạy |
Giáo
viên sẽ truyền tải kiến thức cho học sinh và người học sẽ lĩnh hội các phần
nội dung theo phương thức được thiết lập sẵn. Quá trình giảng dạy này được
lặp đi lặp lại nhiều lần. |
Giáo
viên sẽ đưa ra các gợi ý và hỗ trợ, tư vấn cho học sinh. |
|
Đánh giá |
Kết
quả học tập sẽ được dự đoán và đánh giá dựa trên nhiều phương pháp khác nhau.
Nhìn chung phương pháp dạy học truyền thống sẽ tái hiện được khả năng chính
xác của tri thức. |
Giáo
viên sẽ dựa vào quá trình học tập để đánh giá kết quả nhiều hơn là các bài
kiểm tra. Học sinh cũng sẽ được tham gia vào quá trình đánh giá. Phương pháp
này chủ yếu tập trung vào tính ứng dụng của tri thức trong thực tế. |
|
Không khí lớp
học |
Học sinh trật
tự trong lớp học. |
Học sinh
nói nhiều và lớp học có thể ồn ào. |
No two teenagers are the same. Within all of our classes there tends to be not only a range of proficiency levels, but also general learning styles, maturity, motivation, and personalities. This diversity can bring some challenges, but also opportunities to vary your classroom activities and teaching methodology.
Sound familiar?
Here are some ways to help deal with mixed ability classes and ensure all your students experience success in their language learning journeys.
The first class with your secondary students is a great opportunity to get to know them personally. The quicker you build rapport, the easier your job will be. Take the time to ask questions about their strengths, weaknesses, interests and objectives.
A simple questionnaire can provide all the information you need to understand their individual needs and can also serve as a fun pair work activity or icebreaker after the holiday break.
Here are some example questions to get you started:
Teenagers are social and curious creatures – make your needs analysis more interactive by having them interview each other and then writing a short report outlining what they discovered about their new classmate. Not only will you find out their interests and they’ll get to know each other – you’ll get a writing sample too!
By allowing the students to voice their ideas, you demonstrate that you are inclusive of different personalities and receptive to new teaching ideas. You’ll also know exactly what activities and themes your students will respond well to, and keep them motivated and focused on personal development.
Note that if your students’ English level is low, this kind of questionnaire will be more effective in their native language.
Now you have more of an idea about your learners’ strengths and weaknesses – vary your aims in each class to suit the needs of each individual. Start your lesson by explaining your main objective – for example, it could be “learning holiday vocabulary”. Then ask your students to set their own objectives – for example: “How many new words do you want to learn today? Their answers will act as their personal language aims.
As teacher and a person who understands his or her students well, you can also act as a motivator. If you think they are aiming too low, you can give them a much needed push, if they aim high you can praise their enthusiasm. But don’t forget to reassure them that it’s OK to have different aims and objectives, as everyone is different.
At the end of the class, have a quiz or game to assess their progress. If they exceed their own objectives, praise them. If they fail, acknowledge their efforts and show them how to succeed next time.
Reducing the pressure imposed on them in this way should keep them motivated and enjoying learning the language.
Occasionally allowing L1 in monolingual classrooms is becoming more accepted in ELT nowadays, and this can be a great way to help in mixed ability groups.
Slower students in your class may benefit from access to dictionaries or online translators. This will help them complete certain activities and will also allow them to keep up with their faster classmates.
L1 also can be used to give weaker students the confidence to be able to express any doubts they may have accurately, and can really motivate the stronger ones to consolidate their understanding too.
Moreover, L1 can also be used more actively in class, in translation activities. For example:
Brining the L1 into activities can be fun and motivating, and will help save a lot of time in the planning and research stages. However, remember for many students you are their only source of English and the L1 should not be overused.
Every classroom will have a range of personalities and this is especially true when it comes to teenagers. Some students will be more confident, while others will be shyer. Unfortunately, quieter students are often labelled as being less able – which is often not the case.
Giving your students the opportunity to do frequent pair or group work can help them feel less nervous as they won’t be speaking in front of an entire class. It also gives learners the opportunity to use more conversational language in English and be freer when speaking it, which is key to developing confidence in any new language.
What’s more, pair and group work allows students to take on roles and responsibilities, be more accountable for their actions, and experience success as a team. Teamwork can also help students develop different 21st century skills – such as collaboration, negotiation and creativity.
Depending on the task, learners can be paired with those who are a similar level to allow for fluent and comfortable exchanges, or in mixed ability groups to encourage peer teaching.
It’s always a good idea to have some extra activities lined up for those who finish quickly. It will help keep them focused and will allow the rest of the class the time to finish the task.
Having interesting extension activities prepared which the students want to be able to move onto is important, so they don’t feel like they’re being punished with mundane exercises for finishing first. If the activities are really fun it might even motivate those slower students to work a little faster.
Try things like:
The GoGetter series from Pearson and the BBC is aimed at teenagers and focuses on developing and inspiring young minds – especially those in mixed abilities groups.
Teachers can use this four-level course to plan an effective, personalized syllabus, with lots of opportunities for individual, pair and group work. And of course, it offers a wide variety of extra activities, extension ideas and a section for fast finishers.
GoGetter also provides ample opportunities for further vocabulary, grammar, or skills practice through their Workbook, Extra Online Practice, and MyEnglishLab – a digital platform to be used in class or at home.
Product Marketing Manager for Secondary and Exam Prep at Pearson. Head of Pearson and BBC Live Classes - 2020 winner of British Council's ELTons award for Innovation in Learner Resources.
Blended learning là một phương pháp học tập mới mẻ trong một thời gian trở lại đây và được khá nhiều chuyên gia trong giáo dục tán thành. Nhưng vẫn còn nhiều người chưa hiểu rõ định nghĩa của blended learning là gì?
Blended learning là một phương pháp học tập tích hợp. Trong đó, việc học tập sẽ được bổ sung thêm bởi các hoạt động trực tuyến, bao gồm những bài tập mang tính chất định hướng, tự học. Các học sinh có thể học ít nhất một phần ở địa điểm học tập được giám sát từ xa thông quan mạng.

Việc áp dụng phương pháp giảng dạy blended learning đã có những thay đổi đáng kể trong việc giảng dạy theo truyền thống. Những thay đổi đó có thể kể tới như:
► Xem thêm: Kiến thức các ngành nghề hiện nay để có thêm những thông tin bổ ích
Với mô hình học này, học sinh sẽ tham gia học tập với nhiều cấp độ về khả năng, trình độ như:
Với mô hình này, học sinh sẽ được quay vòng lịch trình học tập giữa thời gian học trực tuyến độc lập và thời gian học trực tiếp. Mô hình này thường phổ biến ở các môi trường:

Với mô hình này, giáo viên sẽ đóng vai trò là những người hướng dẫn. Học sinh sẽ chủ động tìm hiểu kiến thức để thực hành trong các hoạt động của giờ học. Mô hình này được sử dụng nhiều trong các môi trường như:
Với mô hình này, nội dung của chương trình giảng dạy được phân phối thông qua một hệ thống trực tuyến. Học sinh sẽ không có giáo viên hướng dẫn, nhưng họ sẽ được đào tạo thông qua giá sát. Và mô hình này phù hợp với các đối tượng như:
Với mô hình học này, học sinh vẫn sẽ theo học các lớp học truyền thông. Tuy nhiên, học sinh có thể đăng ký thêm những khóa học bổ sinh cho các chương trình học tập của riêng mình. Mô hình học này thường áp dụng với các đối tượng:
Với mô hình này, sinh viên có thể theo học từ xa và nhận những hướng dẫn học tập thông qua các nền tảng trực tuyến. Học sinh/ sinh viên nếu có thắc mắc sẽ thường nhắn tin hỏi giảng viên thông qua các nền tảng giao tiếp trực tuyến.
Phương pháp blended learning mới mẻ hiện nay đem đến sự sinh động cho giáo viên thông qua việc đổi mới hình thức giảng dạy với các trò chơi, bài hát, kết hợp với đó là những hình ảnh, âm thanh làm sống động bài giảng. Qua đó, nội dung bài học sẽ được học viên tiếp thu rất nhanh chóng. Nhất là với những môn cần có sự truyền cảm hứng như: văn học, lịch sử….
Với phương pháp blended learning, học viên sẽ cần phải chuẩn bị trước kiến thức tại nhà. Vì vậy, khi phối hợp giữa các phương thức học trực tiếp và học tập trực tuyến tại nhà, học sinh sẽ có nhiều cơ hội tiếp xúc với kiến thức của các môn học. Thậm chí, cha mẹ cũng có thể cùng đồng hành với các học sinh để chuẩn bị bài thật tốt.

Trong phạm vi một lớp học, giáo viên nếu theo phương pháp dạy cũ sẽ khó có thể theo sát trình độ của từng học sinh. Vì thế, blended learning có thể giúp giáo viên đi sâu vào trình độ của từng cá nhân một. Từ đó có thể tạo ra các giáo trình phù hợp cho từng trình độ của học sinh.
Việc ứng dụng phương pháp blended learning là gì hiện nay đã trở nên phổ biến. Hy vọng phương pháp giảng dạy này sẽ giúp các giáo viên có thể theo sát trình độ của từng học viên một trong lớp học.
(Nguồn: Internet)